Lục vị hoàn, Bát vị hoàn, biện chứng và điều trị.

3 lượt xem

  

   Nói đến bài lục vị, bát vị là nói đến âm dương trong cơ thể. Khác với khí huyết,

âm dương trong cơ thể người là một phạm trù rộng lớn. Nó vừa trừu tượng vừa đa dạng và phức tạp. Âm dương không chỉ là tình trạng tổng quát của cơ thể mà nó còn thể hiện tình trạng hai mặt của từng tạng phủ. Chính vì vậy các cụ danh y xưa đã nói: bệnh thuộc khí huyết thường nhẹ và dễ chữa, bệnh thuộc âm dương thường nặng và khó chữa.

   Biện chứng và điều trị đã được nhiều danh y từ xưa đến nay giải nghĩa và truyền lại. Âm dương vốn là một lĩnh vực khó hiểu, dễ nhầm lẫn, nhiều sách đã viết nhưng cơ bản chỉ những người có chuyên môn cao mới hiểu rõ.

   Vì vậy tôi cố gắng tổng hợp và biện chứng một cách ngắn gọn nhất, dễ hiểu nhất để các bạn không có chuyên môn cũng có thể hiểu được.

1. Đối với cơ thể người thì âm dương nghĩa là như thế nào?

- Trước hết, âm dương là hai mặt đối lập, cùng tồn tại, cùng hỗ trợ nương tựa nhau vận hành và phát triển. Ví dụ: thân thể thuộc âm, thần kinh và suy nghĩ thuộc dương. Huyết thuộc âm, khí thuộc dương. Dưới thuộc âm, trên thuộc dương. Hàn lạnh thuộc âm, ấm nóng thuộc dương. Thủy thuộc âm, hỏa thuộc dương ..... Âm thu vào trong dương tán ra ngoài…..

-  Ví dụ dễ hiểu:

+  Chiếc laptop xuất xưởng, chưa sạc điện, chưa nạp phần mềm, chưa tải ứng dụng thì chiếc laptop là thái âm. Điện, phần mềm, ứng dụng còn thiếu là thiếu dương, chưa hoạt động được. Nếu không có phần mềm, không có điện thì chiếc máy hữu hình mà vô dụng, đó là nguyên lý “dương hóa sinh âm – dương chuyển hóa âm”. Thiếu dương thì không vận hành được. Đó gọi là dương sinh, âm dưỡng.

   Nếu máy đang chạy tốt mà lỗi phần mềm, ứng dụng… là bệnh lý ở phần dương, đó là dương hư, chiếc máy trục trặc.

+   Có phần mềm, ứng dụng, pin điện tốt là thái dương, máy chưa có là thiếu âm.  Nếu không có máy thì phần mềm đó không có chỗ lưu, điện không có chỗ chứa thì vô ích, đó là nguyên lý “âm nạp khí dương – âm là gốc để dương trú ngụ”. Thiếu âm thì dương không có chỗ tồn tại nên đông y thường lấy âm làm gốc.

   Nếu bị tháo hoặc hỏng bộ phận nào đó như vậy cũng không sử dụng được. Bệnh lý ở phần âm, đó là âm hư, chiếc máy trục trặc.

+   Laptop đó phần máy tốt (thái âm), phần mềm, ứng dụng, pin điện tốt (thái dương) là âm dương quân bình. Chiếc máy đó chạy tốt.

+   Laptop đó đang sử dụng tốt mà hỏng bo mạch (âm hư), lỗi phần mềm (dương hư), thì càng hỏng. Đây là âm dương lưỡng hư.

- Theo đông y, mất cân bằng âm dương chính là nguồn gốc sinh ra bệnh tật, vì vậy lập lại cân bằng âm dương chính là nguyên lý chữa bệnh của đông y.

- Trong cơ thể người, tạng thận rất quan trọng vì nắm giữ cả hai phần: âm thủy và dương hỏa. Tinh tiên thiên và tinh hậu thiên được tàng trữ ở thận gọi là thận tinh (thận âm). Tinh lại biến thành khí nên có thận khí (thận dương). Vì vậy ta hiểu tại sao bài Lục vị chủ yếu là tư bổ thận âm – bổ gốc. Bài Bát vị là bổ thận trợ dương lấy Lục vị bổ cho vững gốc, thêm Phụ tử, Nhục quế đại bổ mệnh môn tướng hỏa, tăng cường sinh hóa của thận nên còn gọi là Thận khí hoàn.

 2. Biện chứng bài Lục vị hoàn.

  2.1. Nguồn gốc xuất xứ:

   Bài thuốc Lục vị hoàn (hay Lục vị địa hoàng hoàn) có từ đời Tống ở Trung Quốc, do danh y Tiền Ất sáng chế và ghi lại trong tác phẩm nổi tiếng Tiểu nhi dược chứng trực quyết. Bài Lục vị cũng xuất phát từ bài Bát vị của cụ Trương Trọng Cảnh thời Hậu Hán – Trung Quốc, bớt đi 2 vị là Quế nhục và Phụ tử vì 2 vị này không thích hợp dùng cho tiểu nhi.

   Bài Lục vị điều trị chứng trẻ em nóng trong, gầy còm, sốt âm ỉ, thóp lâu đầy…  Vì trẻ con thuần dương mà ít âm, trẻ tiên thiên yếu kém, hậu thiên chưa đầy đủ dẫn đến chứng thận âm bất túc – thận âm khuyết thiểu.

  Sau này mới áp dụng rộng thêm cho người lớn, trị các chứng liên quan thận âm hư.

 2.2.  Công thức và bào chế bài thuốc:

- Bài thuốc Lục vị hoàn gồm: Thục địa hoàng 320g, Sơn thù du 160g,  Hoài sơn 160g, Trạch tả 120g, Phục linh 120g, Mẫu đơn bì 120g. Liều này dùng cho 1 nồi thuốc hoặc 1 mẻ thuốc khi làm cao hoặc viên thuốc tễ, khác với liều lượng của thang thuốc sắc.

- Cách bào chế: Thục địa chưng chín mềm rồi nghiền nhuyễn. Các vị khác sao giòn tán thành bột mịn. Thêm mật ong chưng thành châu lượng vừa đủ (dùng mật ong vừa tốt hơn siro vừa giúp bảo quản thuốc) trộn đều theo công thức làm viên hoàn mềm. Viên thành viên từ 6 đến 10 gr, tùy theo mục đích.

- Liều dùng: Người lớn: Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20 gr (2 viên lớn).

                     Trẻ em: Tùy tuổi mỗi lần 6 đến 12 gr, ngày 2 lần.

2.3. Diễn giải tác dụng của bài thuốc:

-  Thục địa để tư bổ thận âm, dưỡng huyết, ích tinh tủy.

-  Sơn thù du để tư bổ can thận, cố tinh.

-  Hoài sơn để tư bổ thận, nạp khí cho thận, kiện tỳ.

-  Trạch tả để lợi thủy, thanh thấp nhiệt, giáng trọc khí.

-  Mẫu đơn bì để tả can hỏa, thanh nhiệt lương huyết.

-  Phục linh để kiện tỳ, thẩm thấp.

 2.4. Gia giảm trong điều trị:

   Bài Lục vị là phương thuốc cơ sở để tư bổ cho chứng thận âm hư. Tùy theo trường hợp cụ thể mà gia giảm. Trên thực tế điều trị, do bệnh lý đa dạng, phức tạp nên các thầy thuốc thường dùng đơn Lục vị gia giảm mới đạt kết quả tốt. Do vậy, không nên tự dùng đơn thuốc khi không khám, chẩn đoán và biện chứng đầy đủ. Ví dụ:

   Tại thận:

-  Nếu thận âm hư, di tinh, hoạt tinh, tảo tiết nên tăng Sơn thù, Hoài sơn, thêm Ngũ vị tử … để tăng nạp khí vào thận, liễm âm cố tinh.

   Tạng phủ khác:

-   Nếu can thận âm hư thì gia thêm Đương quy, Bạch thược, Ngưu tất, Đỗ trọng… để bổ thận dưỡng huyết nhu can.

-   Nếu phế thận âm hư thì gia Ngũ vị tử, Thiên môn, Sa sâm...

-   Nếu tâm thận bất giao (tâm thận âm hư) thì thêm Kỷ tử, Táo nhân, Viễn trí.

-   Nếu có vị âm hư thì thay Thục địa bằng sinh địa, thêm Mạch môn, Sa sâm….

 2.5.  Lưu ý khi dùng:

-   Không dùng cho người tỳ vị hư yếu, bụng lạnh.

-   Người chân âm vượng, người béo da mát, béo bệu…

-   Người đàm trệ gây suyễn nghịch….

 

3. Biện chứng bài Bát vị hoàn.

 3.1.  Nguồn gốc xuất xứ:

   Bài Bát vị hoàn do Danh y Trương Trọng Cảnh (thời Hậu Hán - Trung Quốc)  tạo phương và áp dụng, bài thuốc gồm 8 vị: Thục địa, Hoài sơn, Sơn thù du, Bạch linh, Trạch tả, Mẫu đơn bì, Phụ tử và Nhục quế. Bài Bát v�� tác dụng bổ thận trợ dương, bổ mệnh môn tướng hỏa, nên còn gọi là Thận khí hoàn.

   Đặc biệt, bài Bát vị này được Danh y Hải Thượng Lãn Ông biện chứng luận trị và áp dụng điều trị rất hiệu quả. Cụ nhận xét về công năng chữa bệnh của bài thuốc “có thể nói là rất thần diệu”.

   Cụ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác nói: “Tôi kinh nghiệm chữa bệnh đã lâu, biết rằng sự thần diệu của cổ phương không bài nào bằng các bài Lục vị, Bát vị, thật là thuốc thánh để bảo vệ sinh mạng, nếu mà hiểu sâu được ý nghĩa, gặp từng loại bệnh mà suy rộng ra thì càng dùng thấy càng hay, đem chữa bệnh nào mà chẳng được”.

   Xem biện chứng âm dương ở trên.

3.2. Công thức và bào chế bài thuốc:

-   Thục địa 320g, Hoài sơn 160g, Sơn thù du 160g, Bạch linh 120g, Trạch tả 120g, Mẫu đơn bì 120g, Nhục quế 40g, Phụ tử chế 40g. Liều này dùng cho 1 nồi thuốc hoặc 1 mẻ thuốc khi làm cao hoặc viên thuốc tễ, khác với liều lượng của thang thuốc sắc.

- Cách bào chế: Thục địa chưng chín mềm rồi nghiền nhuyễn. Các vị khác sao giòn tán thành bột mịn. Thêm mật ong chưng thành châu lượng vừa đủ (dùng mật ong vừa tốt hơn siro vừa giúp bảo quản thuốc) trộn đều theo công thức làm viên hoàn mềm. Làm thành viên 10 gr.

-  Liều dùng: Mỗi lần 2 viên, ngày 2 lần. (người lớn).

3.3.  Diễn giải tác dụng của bài thuốc:

-  Thục địa để tư bổ thận âm, dưỡng huyết, ích tinh tủy.

-  Sơn thù du để tư bổ can thận, cố tinh.

-  Hoài sơn để tư bổ thận, nạp khí cho thận, kiện tỳ.

-  Trạch tả để lợi thủy, thanh thấp nhiệt, giáng trọc khí.

-  Mẫu đơn bì để tả can hỏa, thanh nhiệt lương huyết.

-  Phục linh để kiện tỳ, thẩm thấp.

-  Phụ tử chế tính nóng thuần dương lưu thông các kinh mạch.

-  Nhục quế đại nhiệt, cay mà tán, tuyên thông huyết mạch.

3.4. Gia giảm trong điều trị:

   Tại sao bổ thận trợ dương lại lấy bài Lục vị bổ âm làm cơ sở rồi thêm 2 vị đại bổ dương để trị chứng thận dương hư. Bởi vì âm là trụ cột, dương để hóa sinh, theo nguyên lý: “dưỡng âm để nạp khí dương, trợ dương để hóa sinh âm”, vừa vận hóa, vừa hài hòa cân bằng âm dương.

   Tinh tiên thiên và tinh hậu thiên được tàng trữ ở thận gọi là thận tinh (thận âm). Tinh lại biến thành khí nên có thận khí (thận dương). Như vậy thận âm là gốc của thận dương cho nên mới lấy Lục vị để cường âm cố tinh.

   Nhục quế và Phụ tử chế là hai vị ôn dương trọng yếu, bổ mệnh môn tướng hỏa, khơi thông nguyên khí, thúc đẩy sự vận hành của khí hóa thận.

   Tùy theo trường hợp cụ thể mà gia giảm. Trên thực tế điều trị, do bệnh lý đa dạng, phức tạp nên các thầy thuốc thường dùng đơn Bát vị gia giảm mới đạt kết quả tốt. Do vậy, không nên tự dùng đơn thuốc khi không khám, chẩn đoán và biện chứng đầy đủ. Bài Bát vị chủ yếu trị chứng thận dương hư hoặc âm dương lưỡng hư là chính. Cho nên:

 - Nếu thận âm hư, di tinh, hoạt tinh, tảo tiết nên tăng Sơn thù, Hoài sơn để tăng nạp khí vào thận, liễm âm cố tinh.

 -  Nếu thận dương hư nhiều thì thêm Lộc nhung, Thỏ ty tử, Phá cố chỉ….

 3.5.  Lưu ý khi dùng:

-  Không dùng cho người bị thiên về thận âm hư, âm hư hỏa vượng, nội nhiệt, táo bón, người gầy…

-  Phụ nữ có thai, người cao huyết áp… cũng không dùng vì Phụ tử (thuốc độc bảng A) và làm tăng huyết áp.

 - Nói chung người bệnh cần được khám, chẩn đoán và điều trị bởi thầy thuốc có chuyên môn về y học cổ truyền trước khi dùng.

 

   Cám ơn các bạn đã đọc bài. Nếu thấy hay xin chia sẻ để lan tỏa thông tin hữu ích. Sau khi uống thuốc tại đây khỏi bệnh hãy giới thiệu cho mọi người làm Phúc. Nếu chưa khỏi bệnh xin đừng vội giới thiệu. Nếu chưa hài lòng xin vui lòng gọi cho phòng khám để góp ý và để thầy thuốc tư vấn cụ thể.

 

   Bác sĩ yhct Vũ Hoàng Long

   Con trai lương y – dược sĩ yhct Vũ Ngọc Khương

 

   Phòng khám chuyên khoa yhct Khương Phúc.

   Địa chỉ: Số 1 ngõ 583 Vũ Tông Phan, p. Khương Đình, TP. Hà Nội.

   ĐT: 0903.288.009

 

"Sức khỏe là tài sản vô giá của bản thân, là tài nguyên của Quốc gia cho nên cần chăm sóc và giữ gìn cẩn thận! "

   Chúc các bạn sức khỏe và hạnh phúc !          

  Phòng khám chuyên khoa yhct Khương Phúc.                                

Bài viết liên quan

0903 288 009

phone